Ung thư là gì?

Về cơ bản, ung thư luôn luôn là hậu quả của sự tích lũy các đột biến gen. Có 2 nhóm gen cơ bản liên quan đến sự sinh ung thư là "gen sinh ung" và "gen ức chế bướu". Đây là các nhóm gen có vai trò nhất định trong tế bào bình thường. "Gen sinh ung" hoặc "tiền gen sinh ung" có vai trò trong quá trình tăng trưởng, phát triển của tế bào. "Gen ức chế bướu" đóng vai trò sửa chữa những sai sót về gen trong tế bào hoặc thúc đẩy tế bào vào "chết tế bào theo lập trình" khi có những sai sót không thể sửa chữa hay tế bào không còn hoạt động hiệu quả. Trong tế bào ung thư, thường có đột biến ở cả 2 nhóm gen nêu trên. Đột biến làm ức chế "gen ức chế bướu" và đột biến làm tăng cường "gen sinh ung".

Đột biến gen là hiện tượng luôn luôn xảy ra bên trong một cơ thể sống. Tuy nhiên với sự hoạt động hiệu quả của hệ thống sửa chữa (các "gen ức chế bướu") các đột biến này thường sẽ bị loại bỏ. Sự tích lũy các đột biến xảy ra khi hệ thống sửa chữa hoạt động kém hiệu quả. Nguyên nhân có thể do do hệ thống sửa chữa bị đột biến hay thậm chí là hệ thống sửa chữa bị ức chế do các nguồn gen ngoại lai như nhiễm virus (HPV, HSV, EBV...).

Đột biến gen khiến cho tế bào ung thư tăng sinh mất kiểm soát. Tế bào bình thường luôn có một giới hạn về số lượng và vị trí trong quá trình tăng sinh, tế bào ung thư thì không. Chúng phân chia liên tục và có thể di căn đến nhiều nơi khác nhau trong cơ thể tùy từng loại ung thư.

Ước tính:
18.1 triệu trường hợp mới mắc ung thư trong năm 2018

9.6 triệu trường hợp tử vong 

(Số liệu toàn cầu)

Khu vực châu Á chiếm 48.4% các trường hợp mới mắc bệnh 

Việt Nam đứng thứ 9 châu Á

Sau: Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan và Thái Lan

Graphic ung thư mới mắc tại Việt Nam

Ung thư không chỉ là một bệnh!

Có rất nhiều loại ung thư. Ung thư thường được gọi tên theo cơ quan mang bướu (ví dụ: ung thư vú, ung thư phổi...) và theo nguồn gốc mô học (ví dụ: carcinoma, sarcoma...). Mỗi loại ung thư có những yếu tố dịch tễ học, yếu tố nguy cơ, căn nguyên, bệnh học, điều trị và theo dõi khác biệt. Trong mỗi loại ung thư lại có thể được chia thành nhiều nhóm bệnh học nhỏ hơn dựa vào kết quả giải phẫu bệnh, đặc điểm sinh học của tế bào ung thư. Cùng một loại ung thư nhưng mỗi người mang bệnh lại là một cá thể khác biệt. Tất cả những yếu tố đó đều ảnh hưởng đến diễn tiến bệnh và quyết định điều trị. Không có công thức chung cho quá trình chẩn đoán và điều trị ung thư.

Sự phân bố của các loại ung thư cũng khác biệt giữa các khu vực địa lý, chủng tộc, giới tính, độ tuổi. Năm loại ung thư có tỉ lệ mắc bệnh phổ biến nhất trên thế giới theo thứ tự là: ung thư phổi, ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư dạ dày. Tại Việt Nam, năm loại ung thư phổ biến nhất theo thứ tự là: ung thư gan, ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư vú và ung thư đại trực tràng.

Giai đoạn của ung thư

Chẩn đoán giai đoạn là một công việc quan trọng và nên được thực hiện bởi các bác sỹ chuyên khoa ung thư. Giai đoạn thường mang ý nghĩa tiên lượng bệnh và góp phần định hướng điều trị. Tuy nhiên giai đoạn không mang tính quyết định tuyệt đối đến sức khỏe của bệnh nhân, khả năng khỏi bệnh, khả năng sống còn cũng như phương pháp điều trị. Từng bệnh cảnh lâm sàng cụ thể với rất nhiều yếu tố như sức khỏe, kinh tế, bệnh lý, khả năng điều trị của từng cơ sở, nguyện vọng của bệnh nhân... sẽ được các bác sỹ chuyên khoa cân nhắc trước khi đưa ra dự báo về tình trạng bệnh cũng như khả năng điều trị. Khi nhắc đến giai đoạn của ung thư, sau đây là một số điểm cần lưu ý:

  • Thứ nhất: giai đoan thực tế chỉ là cách để nói gọn tình trạng bệnh lý theo một hệ thống quy ước. Tùy theo từng hệ thống mà các yếu tố cấu thành giai đoạn có thể khác nhau. Phố biến nhất là hệ thống TNM của UICC với các thành phần là bướu (T), hạch vùng (N) và di căn xa (M). Hệ thống này có bốn giai đoạn cấu thành từ đặc điểm của các thành phần trên. Nhìn chung giai đoạn càng trễ (I < II < III < IV) thì tiên lượng càng xấu.
  • Thứ hai: giai đoạn có giá trị tiên lượng rất khác nhau giữa các loại ung thư. Dù cùng một giai đoạn thì tiên lượng của ung thư phổi, ung thư vú, ung thư cổ tử cung... cũng rất khác nhau. Không thể áp đặt những vấn đề cũng như phương thức giải quyết các vấn đề bệnh lý của loại ung thư này cho loại ung thư khác.
  • Thứ ba: trong cùng một loại ung thư, có thể có nhiều cách xếp giai đoạn theo các hệ thống khác nhau. Cùng một hệ thống xếp giai đoạn cũng tồn tại nhiều phiên bản được cập nhật liên tục. Do đó khi nói đến giai đoạn của một loại ung thư, cần biết được giai đoạn đó sử dụng hệ thống nào và phiên bản nào.
  • Thứ tư: bệnh nhân cùng mắc một loại ung thư và ở cùng một giai đoạn bệnh thì thông thường sẽ có tiên lượng giống nhau. Tuy nhiên còn rất nhiều yếu tố khác sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều trị cuối cùng. Loại giải phẫu bệnh, đặc điểm sinh học, khả năng tiếp cận với những kỹ thuật điều trị hiệu quả (ảnh hưởng bởi cơ sở y tế, nguyện vọng của bệnh nhân, điều kiện kinh tế, tình trạng sức khỏe...) cùng với những lợi ích và tác hại gây ra do các phương pháp điều trị đều sẽ được các bác sỹ chuyên khoa đem lên bàn cân để tìm ra con đường đem lại nhiều lợi ích nhất cho bệnh nhân.
  • Thứ năm: giai đoạn cuối không đồng nghĩa với "sự tuyệt vọng". Như đã trình bày, giai đoạn cuối chỉ là con số cuối cùng trong một hệ thống được quy ước. Hiện tại đã có những phương pháp mới có thể điều trị ung thư ở giai đoạn di căn xa (giai đoạn cuối cùng). Quyết định từ bỏ chỉ nên đưa ra sau khi cân nhắc rất nhiều yếu tố như đã nêu. Và ngay cả khi từ bỏ điều trị chuyên khoa, chăm sóc giảm nhẹ và phục hồi chức năng là những việc nên được thực hiện để bệnh nhân có thể sống đến những ngày có giá trị cuối cùng.

 

Tại sao là người này mà không phải người kia!

Nguyên nhân của ung thư vẫn luôn là một câu hỏi rất khó giải đáp ngay cả với các bác sỹ chuyên khoa hay các nhà nghiên cứu. Một số trường hợp có thể giải thích nguyên nhân gây bệnh như ung thư cổ tử cung gây ra bởi virus HPV, người mang hội chứng đa polyp gia đình (AFP) thì tương lai sẽ bị ung thư đại trực tràng nếu không được phẫu thuật phòng ngừa... Tuy nhiên đa số các trường hợp nguyên nhân gây bệnh không thể xác định rõ ràng.

Ung thư không phải "từ trên trời rơi xuống". Tuy không thể xác định rõ nguyên nhân gây bệnh, nhưng người ta có thể dùng thống kê để xác định những yếu tố nguy cơ. Càng có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng mắc bệnh càng cao. Quan sát, hỏi bệnh và đánh giá các yếu tố nguy cơ này sẽ hỗ trợ bác sỹ định hướng chẩn đoán. Biết và hạn chế tiếp xúc với những yếu tố nguy cơ sẽ giúp một người bình thường giảm bớt nguy cơ mắc ung thư trong tương lai. Ngoài ra người ta cũng biết được những yếu tố có tính bảo vệ giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh.

Về bản chất, ung thư là một trong các biểu hiện của đột biến gen. Các yếu tố nguy cơ gây ung thư là các yếu tố nguy cơ gây ra đột biến gen liên quan đến sự sinh ung thư. Phần lớn các trường hợp ung thư là do đột biến ngẫu nhiên trong quá trình sống. Chỉ một số nhỏ do di truyền. Các bác sỹ chuyên khoa thường sẽ hỏi bệnh nhân về tiền sử bệnh lý của gia đình để định hướng xem liệu đây có phải là trường hợp ung thư do di truyền không và có thể chỉ định tầm soát ở những người thân còn lại cũng như có thể làm những xét nghiệm gen chuyên biệt để xác định. Hay nói cách khác, bị ung thư không phải là lỗi của ai. Khi một người bị ung thư thì ít khi nguyên nhân là từ bố mẹ của người đó mà thường là những đột biến xảy ra do tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ trong cuộc sống. Hoặc đôi khi, chỉ là một đột biến ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình sinh trưởng mà cơ thể không may mắn phải gánh chịu.