Cần làm gì để phòng ngừa ung thư?

Ung thư là một nhóm bệnh lý không đồng nhất, có thể xảy ra ở hầu hết mọi bộ phận trên cơ thể. Có nhiều phân nhóm giải phẫu và phân tử khác nhau của ung thư. Trong đó mỗi loại có những yêu cầu về phương tiện chẩn đoán và điều trị chuyên biệt.

Để kiểm soát ung thư cần có sự phối hợp của các thành tố: phòng ngừa, chẩn đoán sớm và tầm soát, điều trị, chăm sóc giảm nhẹ. Trong đó phòng ngừa được hiểu là những hành động nhằm làm giảm bớt nguy cơ phát sinh ung thư. Điều này lại lệ thuộc vào các nghiên cứu quan sát để tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố nguy cơ đến từ lối sống hay môi trường, các yếu tố di truyền, gen... đến một loại ung thư chuyên biệt nào đó. Từ đó đưa ra cách phòng ngừa hiệu quả nhất.

Phòng ngừa không có nghĩa rằng 100% bạn sẽ không bị ung thư nhưng có thể giảm nguy cơ phát sinh ung thư đến tối đa.

 

Các biện pháp kiểm soát ung thư

Theo Viện Ung thư Hoa Kỳ (NCI). Có thể tổng kết các phương pháp phòng ngừa ung thư thành 5 loại, bao gồm:

  • Tránh hoặc hạn chế tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ sinh ung thư.
  • Thay đổi dinh dưỡng và lối sống.
  • Tầm soát và phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư. (Các tổn thương này chưa phải là ung thư nhưng có thể trở thành ung thư.)
  • Điều trị phòng ngừa bằng thuốc. (Chỉ dùng trong một số trường hợp đặc biệt.)
  • Phẫu thuật phòng ngừa.

Hút thuốc lá (thụ động - chủ động) và các chế phẩm

Nguồn ảnh: pixabay.com (giấy phép mở)
Nguồn ảnh: pixabay.com (giấy phép mở)

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khói thuốc lá chứa hơn 7000 hợp chất hóa học. Trong đó nhiều chất hóa học cũng đồng thời là chất sinh ung thư thông qua nhiều con đường khác nhau như liên kết với DNA và gây ra đột biến gen, gây viêm, stress ô-xy hóa, biến đổi các cơ chế biểu sinh (epigenetic). Các chế phẩm khác của thuốc lá chứa hơn 3000 chất hóa học và rất nhiều chất trong số đó đồng thời cũng là chất sinh ung thông qua có chế liên kết DNA và gây ra đột biến gen. [1]

Hút thuốc lá có mối liên hệ với ít nhất 14 loại ung thư khác nhau. Theo NCI, ước tính hút thuốc lá chịu trách nhiệm cho khoảng 30% các trường hợp tử vong do ung thư tại Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, theo WHO, trên 50% nam giới có hút thuốc lá. Tránh xa khói thuốc và bỏ hút thuốc là một trong những phương pháp hiệu quả để giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong do ung thư. [1], [2]

Theo WHO, nhiễm virus, vi khuẩn và ký sinh trùng là những yếu tố nguy cơ mạnh và đặc hiệu của nhiều loại ung thư. Nhiễm trùng chịu trách nhiệm cho khoảng 16% các trường hợp mới mắc ung thư trên toàn cầu trong năm 2008. Tính riêng tại các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), nhiễm trùng là nguyên nhân của khoảng 26% các trường hợp. Tỉ lệ này tại các quốc gia phát triển là 8%. [1]

Vi khuẩn helicobacter pylori (HP), virus gây viêm gan B (HBV) và viêm gan C (HCV), virus gây u nhú ở người (HPV) là nguyên nhân của khoảng 1.9 triệu trường hợp ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư cổ tử cung trên toàn cầu. Nhiễm HIV khiến hệ miễn dịch suy yếu, qua đó gián tiếp làm tăng nguy cơ ung thư thông qua những loại virus gây ung thư khác. [1]

Phòng ngừa nhiễm trùng bằng cách tiêm vắc xin đúng lịch, sinh hoạt tình dục an toàn, cẩn thận với những mối nguy cơ như tiêm chích. Phát hiện và điều trị khi đã nhiễm bệnh bằng các loại thuốc kháng virus, kháng sinh, kháng ký sinh trùng tại các cơ sở y tế uy tín. [1]

Nhiễm trùng 

Helicobacter pylori
Nguồn ảnh: techlab.com

Tia bức xạ

Bức xạ
Nguồn ảnh: pixabay.com (giấy phép mở)

Có nhiều loại bức xạ như bức xạ i-on hóa, tia cực tím, bức xạ điện từ. Phơi nhiễm với bức xạ i-on hóa dù được phát ra từ nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo đều làm tăng nguy cơ nhiều loại ung thư, phơi nhiễm ở tuổi càng trẻ thì nguy cơ càng cao. Tiếp xúc với tia cực tím từ mặt trời hoặc từ các thiết bị chiếu tia cực tím là nguyên nhân làm tăng nguy cơ bị các loại ung thư da và melanoma. [1]

Mối liên hệ giữa bức xạ điện từ và ung thư không rõ ràng và thiếu bằng chứng về mối liên hệ nhân quả. Tương tự, mối liên hệ giữa việc sử dụng điện thoại ở cường độ cao với ung thư não vẫn còn nhiều tranh cãi. Một số quan sát cho thấy có mối liên quan nhưng các chứng cứ chứng minh quan hệ nhân quả còn chưa đầy đủ và cần được tiếp tục nghiên cứu. [1]

 

Nhiều nghiên cứu quan sát cho thấy nguy cơ ung thư ở bệnh nhâ đái tháo đường tăng khoảng 10 - 15%. Béo phì là một yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư. Lượng mỡ thừa trong cơ thể nhiều sẽ làm tăng nguy cơ ung thư thực quản, đại tràng, tụy, nội mạc tử cung, thận và ung thư vú ở phụ nữ hậu mãn kinh. Chế độ dinh dưỡng hợp lý trong đó chú trọng giảm lượng thức ăn và đồ uống chứa nhiều đường sẽ đem lại nhiều lợi ích đối với cân nặng của cơ thể. [1], [2]

Hoạt động thể chất đều đặn như chạy bộ, đi bộ, bơi lội... làm giảm nguy cơ phát sinh nhiều loại ung thư nhờ tác động tích cực lên việc kiểm soát cân nặng. Ngoài ra các hoạt động này còn giúp giảm nguy cơ ung thư vú và ung thư đại trực tràng qua những cơ chế khác. [1]

Ăn nhiều thịt đỏ, đặc biệt là các loại thịt muối, thịt xông khói làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Chế độ ăn nhiều rau và trái cây không phải là yếu tố bảo vệ mạnh mẽ nhưng vẫn có tác động tích cực làm giảm nguy cơ ung thư. Ngoài ra chế độ ăn nhiều rau và trái cây còn đem lại nhiều lợi ích đối với hệ tim mạch và bệnh đái tháo đường. [1]

 

Chế độ dinh dưỡng, béo phì, đái tháo đường
và lợi ích từ vận động thể chất

thức ăn nhiều đường
Nguồn ảnh: pixabay.com (giấy phép mở)
Bia và ung thư
Nguồn ảnh: pixabay.com (giấy phép mở)

Rượu, bia và các thức uống chứa cồn

Các nghiên cứu dịch tễ và sinh học đã chứng minh uống rượu là một trong các nguyên nhân của ung thư hốc miệng, vòm hầu, thanh quản, thực quản, gan, đại trực tràng và ung thư vú. Và lượng rượu tiêu thụ càng nhiều thì nguy cơ này càng tăng. [1]

Trong năm 2010, ước tính uống rượu chịu trách nhiệm cho khoảng 337400 cái chết do ung thư trên toàn cầu. Chủ yếu là nam giới, với ưu thế là ung thư gan. [1]

Con người không thể tách mình khỏi môi trường, trong khi rất nhiều yếu tố sinh ung thư (đã biết và chưa biết) tồn tại trong môi trường một cách tự nhiên hoặc do con người thải ra. [1]

Ô nhiễm không khí từ khí thải xe cộ, chất đốt, sản xuất công nghiệp chứa rất nhiều chất sinh ung như khí thải từ động cơ diesel, các hydrocarbon thơm đa vòng, benzene, 1,3-butadiene, asbestos, arsenic... Ô nhiễm không khí là nguyên nhân của ung thư phổi và liên quan với nhiều loại ung thư khác, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Arsenic vô cơ trong nước uống là một yếu tố sinh ung. Các chế phẩm khử trùng, dung môi hữu cơ, nitrate, nitrite và một vài loại thuốc trừ sâu cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc ung thư khi đưa vào cơ thể người. [1]

Giảm ổ nhiễm môi trường thông qua cải thiện các chính sách pháp luật, kỹ thuật cũng như ý thức của xã hội không những góp phần làm giảm gánh nặng ung thư mà còn giảm gánh nặng của nhiều loại bệnh tật khác do ô nhiễm gây nên. [1]

Ô nhiễm môi trường
(không khí, đất, nước và thực phẩm)

Ô nhiễm môi trường
Nguồn ảnh: pixabay.com (giấy phép mở)

Tầm soát ung thư

Tầm soát đúng phương pháp có thể làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do ung thư vú, cổ tử cung và đại trực tràng. Hiện tại, tầm soát ung thư chỉ giới hạn ở 3 loại trên. Những loại ung thư khác chưa có chứng cứ chứng minh lợi ích của tầm soát trên dân số bình thường, tầm soát chỉ được áp dụng trên một số đối tượng đặc biệt có nguy cơ cao mắc một loại ung thư chuyên biệt. Thay vào đó có thể phát hiện sớm ung thư qua những triệu chứng báo động như ho kéo dài, ho ra máu, khàn tiếng kéo dài, thay đổi thói quen đại tiện, nốt ruồi thay đổi tính chất... [1]

Ung thư cổ tử cung có thể được tầm soát thông qua quan sát trực tiếp cổ tử cung, tế bào học cổ tử cung hoặc xét nghiệm HPV. Ung thư đại trực tràng được tầm soát bằng các xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân, xét nghiệm miễn dịch trên phân hoặc các phương tiện hình ảnh học như nội soi đại tràng sigma, nội soi khung đại tràng, nội soi ảo bằng CT-scan. Ung thư vú được khuyến cáo nên tầm soát bằng nhũ ảnh. [1]

Mỗi loại ung thư có chỉ định tầm soát rất khác nhau, không chỉ là các phương tiện mà còn ở đối tượng nên tầm soát, độ tuổi bắt đầu, khoảng cách giữa 2 lần tầm soát. Do đó để mang lại lợi ích tốt nhất, nên tìm hiểu rõ trước khi quyết định hoặc liên hệ với các bác sỹ chuyên khoa để nhận được sự tư vấn tốt nhất. [1]

Điều trị phòng ngừa ung thư

Điều trị phòng ngừa chỉ mang lại lợi ích cho những đối tượng đặc biệt, thường là những nhóm người có nguy cơ cao đối với một loại ung thư chuyên biệt và phương pháp điều trị phải được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng. Các phương pháp điều trị ít nhiều đều ảnh hưởng đến sức khỏe và lại được thực hiện trên một người bình thường chưa bị ung thư. Do đó quyết định điều trị phòng ngừa luôn luôn cần được trao đổi và thống nhất giữa người được điều trị với bác sỹ chuyên khoa. [2]

Tài liệu tham khảo

  1. Bernard W. Stewart, Christopher P. Wild (2014), World Cancer Report 2014,  International Agency for Research on Cancer, WHO press
  2. PDQ Screening and Prevention Editorial Board (2018), Cancer Prevention Overview (PDQ®): Health Professional Version", In: PDQ Cancer Information Summaries, National Cancer Institute (US), Bethesda (MD).