Các yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng

Tầm soát ung thư đại trực tràng
Tầm soát ung thư đại trực tràng

Các yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng

BS. Đường Hùng Mạnh

Cập nhật lần cuối vào tháng 11/2018


Theo số liệu mới nhất năm 2018 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ung thư đại trực tràng là loại ung thư có tỉ lệ mới mắc bệnh xếp hàng thứ 3, tỉ lệ tử vong xếp hàng thứ 2 và tỉ lệ bệnh lưu hành trong vòng 5 năm xếp hàng thứ 2 trong tất cả các loại ung thư trên dân số toàn thế giới. Tính riêng tại Việt Nam, cũng theo WHO, ung thư đại trực tràng có tỉ lệ mới mắc bệnh trong năm 2018 xếp hàng thứ 5, tỉ lệ tử vong xếp hàng thứ 4 và tỉ lệ tử vong xếp hàng thứ 2.[8]

Các yếu tố nguy cơ ung thư đại trực tràng

Tuổi và tiền căn gia đình là những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của ung thư đại trực tràng.

Tuổi

Tuổi là yếu tố nguy cơ không thể thay đổi. Nhìn chung ung thư đại trực tràng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng nguy cơ tăng khi tuổi tăng. Theo Hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) trên 94% bệnh nhân ung thư đại trực tràng ở lứa tuổi trên 44. Tuổi trung vị lúc mắc bệnh là khoảng 68. Cũng theo ACS nhóm bệnh nhân có tuổi trên 5 và đặc biệt là nhóm trên 65 tuổi đang có xu hướng giảm, trong khi đó nhóm bệnh nhân có tuổi dưới 55 đang có xu hướng tăng lên. ACS khuyến cáo cân nhắc bắt đầu tầm soát từ năm 45 tuổi và khuyến cáo mạnh tầm soát cho người từ 50 tuổi trở lên.[11],[18]

Tiền căn gia đình

Tiền căn gia đình bị ung thư đại trực tràng làm tăng nguy cơ mắc bệnh trọn đời lên 2 – 6 lần. Theo Johns và cộng sự, có 1 người thân có liên hệ bậc một (cha mẹ, con cái, anh chị em) bị ung thư đại trực tràng thì nguy cơ mắc bệnh tăng 2.25 lần. Nguy cơ mắc bệnh tăng lên thành 3.87 lần nếu tuổi lúc mắc bệnh của người thân < 45 và tăng lên thành 4.25 lần nếu có hơn 1 người thân bị ung thư đại trực tràng.[10]

Các khuyến cáo tầm soát cho nhóm người có tiền căn gia đình xin xem bài: Tầm soát ung thư đại trực tràng có yếu tố gia đình

Chủng tộc

Người da đen có nguy cơ bị ung thư đại trực tràng cao hơn các chủng tộc khác. Lieberman và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu quan sát trên dân số được nội soi đại tràng tại Hoa Kỳ, kết quả cho thấy polyp lớn (>9mm) được tìm thấy nhiều hơn ở người da đen so với người da trắng, đặc biệt là ở nữ giới. Tỉ số nguy cơ (OR) của nam giới da đen so với nam giới da trắng là 1.16 và ở nữ giới là 1.62.[12]

Giới tính

Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới. Theo một phân tích tổng hợp của Nguyen và cộng sự, nguy cơ tương đối bị bướu tuyến tiến triển (nghĩa là tổn thương ung thư, bướu tuyến có đường kính ≥ 10 mm, loạn sản nặng, mô học có dạng bướu tuyến nhánh (villous adenoma), bướu tuyến ống – nhánh (tubulovillous adenoma) hoặc có bất kỳ sự kết hợp nào) ở nam so với nữ là 1.83 (khoảng tin cậy (Cl) 95% từ 1.69 – 1.97). Nguy cơ tương đối bị ung thư đại trực tràng ở nam so với nữ là 2.02 (95% CI, 1.53-2.66). Nam giới lứa tuổi 45 – 59 có nguy cơ ung thư ngang với nữ giới tuổi từ 55 – 59. Trong một phân tích đoàn hệ, Ferlitsch và cộng sự đã nhận thấy số tình nguyện viên cần tầm soát để phát hiện được một trường hợp bướu tuyến tiến triển ở nam giới tuổi từ 45 – 59 và nữ giới tuổi từ 55 – 59 là tương tự nhau (lần lượt là 26.1 người và 26 người).[7],[13]

Viêm đại trực tràng

Viêm đại tràng là yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư nếu tổn thương lan rộng hoặc lâu năm. Theo Beaugerie và cộng sự, tỉ số mắc bệnh (incidence ratios) ung thư đại trực tràng của dân số bị viêm đại tràng lan rộng lâu năm so với dân số chung là 7 (95% CI: 4.4-10.5; P<.001), trong khi tỉ số mắc bệnh của dân số viêm đại tràng không lan rộng và không lâu năm là 1.1 (95% CI: 0.6-1.8; P = .84). Viêm đại tràng lâu năm được định nghĩa là viêm trên 10 năm và lan rộng khi viêm ≥ 50% đại tràng. Đối với bệnh Crohn, nguy cơ tương đối bị ung thư đại tràng là 2.5 và tăng lên thành 5.6 nếu bệnh Crohn chỉ giới hạn ở đại tràng. Nguy cơ ung thư cao hơn ở người mắc bệnh Crohn tuổi nhỏ hơn 30 so với người mắc bệnh Crohn có tuổi lớn hơn 30.[2],[6]

Từng bị ung thư đại trực tràng hoặc polyp đại trực tràng

Tiền sử bị ung thư đại trực tràng cũng là một yếu tố làm tăng nguy cơ bị ung thư đại trực tràng lần thứ 2 (ung thư ở một vị trí khác trên đại trực tràng, khác với với bệnh ung thư lần thứ nhất tái phát). Theo Raj và cộng sự, nguy cơ ung thư đại trực tràng ở những bệnh nhân đã từng bị ung thư đại trực tràng cao gấp 1.4 lần so với dân số bình thường. Tiền sử có polyp đại trực tràng cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh, nhất là nếu có đa polyp, polyp lớn hoặc có cấu trúc mô học dạng nhánh.[15]

Xạ trị vùng bụng lúc nhỏ

Trẻ em được xạ trị vùng bụng do nguyên nhân ác tính sẽ tăng nguy cơ ung thư dạ dày – ruột khi lớn lên, nhiều nhất là ung thư đại trực tràng. Tỉ lệ mắc ung thư đại trực tràng ở những người có tiền căn xạ trị lúc nhỏ cao gấp 11 lần so với người không có tiền căn xạ trị. Những người này cũng thường có tuổi trẻ hơn (thường là < 50 tuổi) khi phát hiện ung thư đại trực tràng. Nhóm Ung thư Nhi khoa (Children's Oncology Group) khuyến cáo nội soi đại trực tràng mỗi 5 năm với người được xạ trị vùng bụng trên 30 Gy lúc nhỏ, bắt đầu từ thời điểm 10 năm sau xạ trị hoặc từ năm 35 tuổi (tùy theo thời điểm nào đến trước).[5],[9],[14]

Xạ trị ung thư tiền liệt tuyến

Theo Baxter và cộng sự xạ trị ung thư tiền liệt tuyến là một yếu tố làm gia tăng có ý nghĩa nguy cơ ung thư trực tràng. Tỉ số nguy cơ (HR) xuất hiện ung thư trực tràng ở nhóm bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến có xạ trị so với nhóm chỉ phẫu thuật là 1.7 (95% CI: 1.4-2.2).[1]

Ung thư nội mạc tử cung

Nghiên cứu được thực hiện trên dân số tại Canada bởi Singh và cộng sự cho thấy phụ nữ được chẩn đoán bị ung thư nội mạc tử cung ở tuổi ≤ 50 sẽ có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng tăng lên gấp 4 lần.[16]

Nam giới nhiễm HIV

Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Bini và cộng sự, nam giới nhiễm HIV và ≥ 50 tuổi có nguy cơ ung thư đại trực tràng cao hơn so với dân số chung.[3]

Hút thuốc lá, lối sống và các yếu tố nguy cơ khác

Các yếu tố nguy cơ khác của ung thư đại trực tràng bao gồm hút thuốc lá, bệnh to cực chi, ghép thận, đái tháo đường, thiếu androgen, uống rượu, béo phì, các yếu tố liên quan đến lối sống. Theo phân tích tổng hợp của Botteri và cộng sự, người hút thuốc lá có nguy cơ ung thư đại trực tràng cao hơn 18% so với người không bao giờ hút thuốc (nguy cơ tương đối = 1.18, 95% CI 1.11-1.25).[4]

Các yếu tố trong lối sống làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng:[19]

  • Lối sống tĩnh tại, ít vận động
  • Ăn thịt đỏ
  • Béo phì
  • Hút thuốc lá
  • Uống rượu

Các yếu tố trong lối sống làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng:[19]

  • Sử dụng đa vi lượng (multivitamins) có chứa folic acid
  • Sử dụng aspirin và các thuốc giảm đau kháng viêm họ NSAIDs khác
  • Sử dụng liệu pháp hoocmone sau mãn kinh
  • Bổ sung calcium
  • Selenium
  • Ăn rau, trái cây và chất xơ

Phân tầng nguy cơ ung thư đại trực tràng

Phân tầng nguy cơ là việc quan trọng cần làm để đạt được hiệu quả tầm soát ung thư đại trực tràng, do mỗi nhóm nguy cơ cần được tầm soát khác nhau. Thông thường phân tầng nguy cơ nên được thực hiện quanh tuổi 20, nhưng có thể sớm hơn nếu có tiền căn gia đình bị ung thư đại trực tràng hoặc mắc hội chứng đa polyp gia đình. Nguy cơ ung thư đại trực tràng có thể được ước tính thông qua công cụ được phát triển bởi National Cancer Institute, sử dụng các thông tin như tuổi, chế độ ăn uống, vận động, thuốc, kết quả nội soi đại tràng cũng như tiền sử bệnh lý của gia đình để tính toán. Một cách đơn giản hóa, trên thực tế nguy cơ ung thư đại trực tràng có thể được phân tầng thông qua các câu hỏi sau:[17]

  • Bạn có từng bị ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến ở đại trực tràng không?
  • Bạn có bị các bệnh lý làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng (như viêm đại tràng (viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn), xạ trị vùng bụng do ung thư lúc nhỏ, xạ trị ung thư tiền liệt tuyến, ung thư nội mạc tử cung) không?
  • Gia đình bạn có ai bị ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến đại trực tràng không? Nếu có thì bao nhiêu người bị và đó có phải là người thân thuộc thế hệ thứ nhất (cha mẹ, anh chị em, con cái) với bạn không? Tuổi của họ lúc được chẩn đoán bệnh là bao nhiêu?

Nếu một người có tất cả câu trả lời cho các câu hỏi trên là “không”, có thể xếp người này vào nhóm nguy cơ bình thường trong dân số và có thể tầm soát theo khuyến cáo chung. Nếu có bất kỳ câu trả lời “có”, người này sẽ cần được đánh giá thêm và tầm soát theo từng nhóm nguy cơ riêng.[17]

Các khuyến cáo mới nhất đối với tầm soát ung thư đại trực tràng trên người có nguy cơ bình thường xin xem bài: Tầm soát ung thư đại trực tràng

Tài liệu tham khảo

  1. Baxter N. N., Tepper J. E., Durham S. B., Rothenberger D. A., Virnig B. A. (2005), "Increased risk of rectal cancer after prostate radiation: a population-based study". Gastroenterology,  128  (4), pp. 819-24.
  2. Beaugerie L., Svrcek M., Seksik P., Bouvier A. M., Simon T., et al. (2013), "Risk of colorectal high-grade dysplasia and cancer in a prospective observational cohort of patients with inflammatory bowel disease". Gastroenterology, 145  (1), pp. 166-175.e8.
  3. Bini E. J., Park J., Francois F. (2006), "Use of flexible sigmoidoscopy to screen for colorectal cancer in HIV-infected patients 50 years of age and older". Arch Intern Med,  166  (15), pp. 1626-31.
  4. Botteri E., Iodice S., Bagnardi V., Raimondi S., Lowenfels A. B., et al. (2008), "Smoking and colorectal cancer: a meta-analysis". Jama, 300  (23), pp. 2765-78.
  5. Children's Oncology Group. Colorectal cancer following treatment for childhood cancer: Are you at risk? 2008; Available from: http://www.survivorshipguidelines.org/pdf/ColorectalCancer.pdf.
  6. Ekbom A., Helmick C., Zack M., Adami H. O. (1990), "Increased risk of large-bowel cancer in Crohn's disease with colonic involvement". Lancet,  336  (8711), pp. 357-9.
  7. Ferlitsch M., Reinhart K., Pramhas S., Wiener C., Gal O., et al. (2011), "Sex-specific prevalence of adenomas, advanced adenomas, and colorectal cancer in individuals undergoing screening colonoscopy". Jama, 306  (12), pp. 1352-8.
  8. GLOBOCAN 2018. Global cancer observatory. 2018 [cited 10/11/2018; Available from: https://gco.iarc.fr.
  9. Henderson T. O., Oeffinger K. C., Whitton J., Leisenring W., Neglia J., et al. (2012), "Secondary gastrointestinal cancer in childhood cancer survivors: a cohort study". Ann Intern Med, 156  (11), pp. 757-66, w-260.
  10. Johns L. E., Houlston R. S. (2001), "A systematic review and meta-analysis of familial colorectal cancer risk". Am J Gastroenterol, 96  (10), pp. 2992-3003.
  11. Lauren Kosinski, Ben George, Kiran K. Turaga, Candice A. Johnstone, Mohammad Mahmoud (2018), "Colon and Rectal Cancer", In:  The American Cancer Society, Editor The American Cancer Society’s Oncology in Practice Clinical Management, Wiley Blackwell, pp. 124 - 148.
  12. Lieberman D. A., Holub J. L., Moravec M. D., Eisen G. M., Peters D., et al. (2008), "Prevalence of colon polyps detected by colonoscopy screening in asymptomatic black and white patients". Jama, 300  (12), pp. 1417-22.
  13. Nguyen S. P., Bent S., Chen Y. H., Terdiman J. P. (2009), "Gender as a risk factor for advanced neoplasia and colorectal cancer: a systematic review and meta-analysis". Clin Gastroenterol Hepatol,  7  (6), pp. 676-81.e1-3.
  14. Nottage K., McFarlane J., Krasin M. J., Li C., Srivastava D., et al. (2012), "Secondary colorectal carcinoma after childhood cancer". J Clin Oncol, 30  (20), pp. 2552-8.
  15. Raj K. P., Taylor T. H., Wray C., Stamos M. J., Zell J. A. (2011), "Risk of second primary colorectal cancer among colorectal cancer cases: a population-based analysis". J Carcinog,  10, pp. 6.
  16. Singh H., Nugent Z., Demers A., Czaykowski P. M., Mahmud S. M. (2013), "Risk of colorectal cancer after diagnosis of endometrial cancer: a population-based study". J Clin Oncol,  31  (16), pp. 2010-5.
  17. Winawer S., Fletcher R., Rex D., Bond J., Burt R., et al. (2003), "Colorectal cancer screening and surveillance: clinical guidelines and rationale-Update based on new evidence". Gastroenterology, 124  (2), pp. 544-60.
  18. Wolf A. M. D., Fontham E. T. H., Church T. R., Flowers C. R., Guerra C. E., et al. (2018), "Colorectal cancer screening for average-risk adults: 2018 guideline update from the American Cancer Society". CA Cancer J Clin, 68  (4), pp. 250-281.
  19. Tomeo CA, Colditz GA, Willett WC, Giovannucci E, Platz E, et al. (1999), "Harvard Report on Cancer Prevention: volume 3: prevention of colon cancer in the United States". Cancer Causes & Control, 10  (3), pp. 167.