Tầm soát ung thư cổ tử cung

Ung thư cố tử cung
Nguồn ảnh: Gray's Anatomy for Students

Tầm soát ung thư cổ tử cung

BS. Đường Hùng Mạnh


Năm 2010, tại Việt Nam có 5.664 phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung. Tỷ lệ mắc mới ung thư cổ tử cung đã chuẩn hóa theo tuổi (ASR) là 13,6/100.000 phụ nữ, thấp hơn so với khu vực Đông Nam Á (15,8/100.000) nhưng đang có xu hướng gia tăng. Ung thư cổ tử cung tạo ra các gánh nặng bệnh tật lớn cho người bệnh, gia đình, hệ thống y tế và toàn xã hội. Năm 2012, tổng gánh nặng trực tiếp của UTCTC khoảng 1.755 tỷ đồng, xếp thứ 4 và chiếm khoảng 0,015% tổng GDP; gánh nặng gián tiếp khoảng 418 tỷ đồng, xếp thứ 5 trong số 6 loại bệnh ung thư thường gặp nhất.[2] Tuy nhiên,

Ung thư cổ tử cung có thể tầm soát hiệu quả

Ung thư cổ tử cung không tự xuất hiện mà có nguyên nhân bệnh sinh rõ ràng. Khoảng 5 – 10% phụ nữ nhiễm HPV sẽ hình thành các biến đổi ở cổ tử cung. Các biến đổi này sẽ hình thành nên các tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung, gọi là CIN (Cervical intraepithelial neoplasia). Tuổi thường gặp của CIN là 20 – 35 tuổi. CIN có 3 mức độ là CIN1, CIN2 và CIN3 trong đó:[2],[3],[5]

  • CIN 1 hay còn gọi là tổn thương trong biểu mô gai độ thấp (low‐grade Squamous intraepithelial lesions, viết tắt là LSIL) tương ứng với tổn thương giới hạn ở 1 phần 3 dưới của lớp biểu mô cổ tử cung.
  • CIN2 và CIN 3 (gọi chung là CIN2+) hay còn gọi là tổn thương trong biểu mô gai độ cao (high‐grade Squamous intraepithelial lesions, viết tắt là HSIL) tương ứng với tổn thương lan đến 1 phần 3 giữa và 1 phần 3 trên của lớp biểu mô.

Nếu không điều trị, khoảng 50% CIN 1 sẽ chuyển sang CIN 3, phần còn lại chuyển sang CIN 2 hoặc không thay đổi. CIN 1 cũng có thể thoái triển tự nhiên. Trong khi CIN 2 và CIN 3 không thể tự thoái triển. CIN 3 có thể chuyển thành carcinôm tại chỗ của cổ tử cung rồi thành ung thư xâm nhập trong 60 – 70% trường hợp.[1],[3]

Quá trình từ CIN cho đến ung thư cổ tử cung xâm nhập diễn ra rất chậm, với thời gian từ 10 – 30 năm. Do đó hoàn toàn có thể tầm soát và phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư để điều trị trước khi các tổn thương này trở thành ung thư thực sự.[1],[3]

Các khuyến cáo tầm soát ung thư cổ tử cung

Các khuyến cáo tầm soát sau đây chủ yếu được áp dụng cho phụ nữ có nguy cơ trung bình trong dân số. Được định nghĩa là những người không có tiền sử bị tổn thương tiền ung thư (CIN2+) hoặc ung thư cổ tử cung, không suy giảm miễn dịch, không nhiễm HIV và tử cung chưa từng phơi nhiễm với chất diethylstilbestrol.[4]

Khuyến cáo tầm soát ung thư cổ tử cung của Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG)

  • Không tầm soát ung thư cổ tử cung trước 21 tuổi
  • Không xét nghiệm HPV trước 30 tuổi ở nhóm phụ nữ có nguy cơ trung bình.
  • Chu kì tầm soát ở nhóm phụ nữ có nguy cơ trung bình không ngắn hơn 3 năm.
  • Bắt đầu tầm soát từ 21 tuổi, chu kì mỗi 3 năm bằng tế bào học cổ tử cung.
  • Bắt đầu từ năm 30 tuổi, có thể tiếp tục tầm soát với chu kì mỗi 3 năm hoặc kết hợp xét nghiệm HPV và tế bào học cổ tử cung (co-testing) với chu kì tầm soát là 5 năm.
  • Ngưng tầm soát ở phụ nữ trên 65 tuổi nếu có 3 lần tầm soát liên tiếp bằng tế bào học hoặc 2 lần tầm soát liên tiếp bằng co-testing âm tình trong vòng 10 năm, với lần tầm soát gần nhất được thực hiện trong vòng 5 năm.
  • Tế bào học không đủ tiêu chuẩn có thể làm lại trong 2 – 4 tháng.
  • Nếu co-testing cho kết quả không tương hợp. Tế bào học dương tính thì luôn phải có xử trí tiếp theo bất kể kết quả xét nghiệm HPV. Tế bào học âm tính nhưng HPV dương tính, khuyến cáo làm lại co-testing trong 1 năm. Nếu co-testing âm tính, tiếp tục tầm soát như bình thường.
  • Phụ nữ đã chủng ngừa vẫn cần tầm soát như bình thường.

Các phác đồ tầm soát ung thư cổ tử cung của Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em – Bộ Y tế

Theo “kế hoạch hành động quốc gia dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016 – 2025” của Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em – Bộ Y tế, đối với các cơ sở đủ điều kiện thực hiện tế bào học cổ tử cung và xét nghiệm HPV. Cân nhắc sử dụng các phác đồ từ 1 đến 4. Đối với các cơ sở chưa đủ điều kiện xét nghiệm HPV và tế bào học: có thể lấy bệnh phẩm tế bào học/HPV và gửi đến nơi có thể xét nghiệm. Hoặc sử dụng phác đồ 5, sàng lọc dựa vào test quan sát cổ tử cung với acid acetic (VIA).[2]

Phác đồ 1: Sàng lọc dựa vào xét nghiệm tế bào cổ tử cung

Phác đồ 1: Sàng lọc dựa vào xét nghiệm tế bào cổ tử cung

Phác đồ 2: Sàng lọc dựa vào xét nghiệm HPV đơn thuần (định tính)

Phác đồ 2: Sàng lọc dựa vào xét nghiệm HPV đơn thuần (định tính)

Phác đồ 3: Sàng lọc dựa vào xét nghiệm HPV đơn thuần (định type từng phần)

Phác đồ 3: Sàng lọc dựa vào xét nghiệm HPV đơn thuần (định type từng phần)

Phác đồ 4: Sàng lọc dựa vào bộ đôi xét nghiệm HPV và tế bào học (Co-testing)

Phác đồ 4: Sàng lọc dựa vào bộ đôi xét nghiệm HPV và tế bào học (Co-testing)

Phác đồ 5: Sàng lọc dựa vào nghiệm pháp VIA

Phác đồ 5: Sàng lọc dựa vào nghiệm pháp VIA

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Thị Vân Anh, Đoàn Thị Phương Thảo (2009), "Bệnh cổ tử cung", In: Trần Phương Hạnh, Editor Giải phẫu bệnh học, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, pp. 431 - 443.
  2. Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em (2016), "Kế hoạch hành động quốc gia dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016 - 2025". mch.moh.gov.vn.
  3. Lynette D., Leon V. W. (2015), "Cervix", In: O'Sullivan B., Editor UICC Manual of Clinical Oncology, Wiley, pp. 449 - 466.
  4. Sawaya G. F., Kulasingam S., Denberg T. D., Qaseem A. (2015), "Cervical Cancer Screening in Average-Risk Women: Best Practice Advice From the Clinical Guidelines Committee of the American College of Physicians". Ann Intern Med,  162  (12), pp. 851-9.
  5. World Health Organization (2013), "WHO Guidelines for Screening and Treatment of Precancerous Lesions for Cervical Cancer Prevention", World Health Organization Geneva, pp.