Tầm soát ung thư đại trực tràng

Tầm soát ung thư đại trực tràng
Tầm soát ung thư đại trực tràng

Tầm soát ung thư đại trực tràng

BS. Đường Hùng Mạnh

Cập nhật lần cuối vào tháng 11/2018


Tổng quan về ung thư đại trực tràng

Theo số liệu mới nhất năm 2018 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ung thư đại trực tràng là loại ung thư có tỉ lệ mới mắc bệnh xếp hàng thứ 3, tỉ lệ tử vong xếp hàng thứ 2 và tỉ lệ bệnh lưu hành trong vòng 5 năm xếp hàng thứ 2 trong tất cả các loại ung thư trên dân số toàn thế giới. Tính riêng tại Việt Nam, cũng theo WHO, ung thư đại trực tràng có tỉ lệ mới mắc bệnh trong năm 2018 xếp hàng thứ 5, tỉ lệ tử vong xếp hàng thứ 4 và tỉ lệ tử vong xếp hàng thứ 2.[4]

Tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong của ung thư đại trực tràng đang có xu hướng giảm dần tại Hoa Kỳ. Các mô hình tính toán cho thấy tầm soát đóng vai trò rất quan trọng trong thành công đạt được này và làm giảm 53% tỉ lệ tử vong do ung thư đại trực tràng quan sát được. Ước tính từ năm 1987 đến năm 2010, tầm soát tại Hoa Kỳ đã giúp ngăn chặn sự hình thành của khoảng 250,000 – 500,000 trường hợp ung thư.[2],[11]

Phần lớn ung thư đại trực tràng hình thành từ các bướu tuyến ở đại trực tràng. Phần lớn bướu tuyến ở đại trực tràng có dạng polyp. Diễn biến tự nhiên thường khởi nguồn từ một polyp nhỏ (< 8 mm), phát triển thành polyp lớn (≥ 8 mm), xảy ra quá trình loạn sản, và cuối cùng là hình thành ung thư biểu mô (carcinoma). Quá trình này ở người bình thường cần tối thiểu khoảng 10 năm. Tầm soát có thể giúp phát hiện và cắt bỏ polyp trước khi ung thư hình thành.[3],[9]

Diễn tiến tự nhiên của tổn thương tân sinh ở đại trực

Hình 1: Diễn tiến tự nhiên của tổn thương tân sinh ở đại trực tràng (nguồn ảnh: CMS)

Phân tầng nguy cơ ung thư đại trực tràng

Phân tầng nguy cơ là việc quan trọng cần làm để đạt được hiệu quả tầm soát ung thư đại trực tràng, do mỗi nhóm nguy cơ cần được tầm soát khác nhau. Thông thường phân tầng nguy cơ nên được thực hiện quanh tuổi 20, nhưng có thể sớm hơn nếu có tiền căn gia đình bị ung thư đại trực tràng hoặc mắc hội chứng đa polyp gia đình. Nguy cơ ung thư đại trực tràng có thể được ước tính thông qua công cụ được phát triển bởi National Cancer Institute, sử dụng các thông tin như tuổi, chế độ ăn uống, vận động, thuốc, kết quả nội soi đại tràng cũng như tiền sử bệnh lý của gia đình để tính toán. Một cách đơn giản hóa, trên thực tế nguy cơ ung thư đại trực tràng có thể được phân tầng thông qua các câu hỏi sau:[8]

  • Bạn có từng bị ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến ở đại trực tràng không?
  • Bạn có bị các bệnh lý làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng (như viêm đại tràng (viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn), xạ trị vùng bụng do ung thư lúc nhỏ, xạ trị ung thư tiền liệt tuyến, ung thư nội mạc tử cung) không?
  • Gia đình bạn có ai bị ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến đại trực tràng không? Nếu có thì bao nhiêu người bị và đó có phải là người thân thuộc thế hệ thứ nhất (cha mẹ, anh chị em, con cái) với bạn không? Tuổi của họ lúc được chẩn đoán bệnh là bao nhiêu?

Nếu một người có tất cả câu trả lời cho các câu hỏi trên là “không”, có thể xếp người này vào nhóm nguy cơ bình thường trong dân số và có thể tầm soát theo khuyến cáo chung. Nếu có bất kỳ câu trả lời “có”, người này sẽ cần được đánh giá thêm và tầm soát theo từng nhóm nguy cơ riêng.[8]

Hướng dẫn tầm soát ung thư đại trực tràng trên dân số nguy cơ bình thường

Với người có yếu tố nguy cơ gia đình xin xem bài: Tầm soát ung thư đại trực tràng khi có yếu tố gia đình

Tuổi bắt đầu tầm soát

US Preventive Services Task Force (USPSTF) khuyến cáo bắt đầu tầm soát ung thư đại trực tràng từ năm 50 tuổi và tiếp tục đến năm 75 tuổi. Theo USPSTF tầm soát ung thư đại trực tràng cho người trong độ tuổi từ 50 – 75 đem lại lợi ích cao nhất. Bắt đầu tầm soát sớm hơn năm 50 tuổi không đem lại lợi ích cho dân số chung. Ung thư đại trực tràng có thể xuất hiện trên những người không triệu chứng và < 50 tuổi, tuy nhiên tỉ lệ phát hiện các tổn thương là thấp. Theo Imperiale và cộng sự, 78.9% người trong độ tuổi từ 40 – 49 có kết quả nội soi bình thường, 10% phát hiện polyp tăng sản, 8.7% phát hiện bướu tuyến ống và 3.5% phát hiện tân sinh tiến triển, ngoài ra không có trường hợp nào phát hiện ung thư.[1],[5]

USPSTF khuyến cáo không tầm soát cho người ≥ 86 tuổi. Quyết định tiếp tục hay dừng tầm soát cho người từ 76 đến 85 tuổi cần được cá nhân hóa dựa trên tình trạng sức khỏe và kết quả từ những lần sàng lọc trước đó. Một số nghiên cứu cho thấy tầm soát sau tuổi 75 ít đem lại lợi ích sống còn trên dân số chung đã được tầm soát đầy đủ trước đó. Theo Van Hees và cộng sự, tầm soát trên dân số lớn tuổi có nguy cơ bình thường và chưa được tầm soát ung thư đại trực tràng trước đó có thể đem lại lợi ích cho đến năm 86 tuổi. Cũng them Van, nội soi đại tràng được chỉ định đến năm 83 tuổi, nội soi đại tràng sigma đến năm 84 tuổi, dân số 85 - 86 tuổi nên sử dụng FIT.[1],[6],[7]

Cập nhật mới nhất của ACS năm 2018 khuyến cáo bắt đầu tầm soát từ năm 45 tuổi trên dân số nguy cơ trung bình. Tầm soát đến trên 75 tuổi nếu tình trạng sức khỏe bình thường và thời gian kỳ vọng sống thêm trên 10 năm. Không cần tầm soát ở tuổi trên 85. Cân nhắc ở độ tuổi từ 76 – 85 tùy theo chọn lựa của người them gia tầm soát, kỳ vọng sống, tình trạng sức khỏe và tiền sử tầm soát trước đây.[10]

Tóm lại, tầm soát ung thư đại trực tràng trên dân số chung nên bắt đầu từ năm 50 tuổi hoặc sớm hơn (45 – 50) và kết thúc trong khoảng tuổi từ 75 – 85.

Chu kỳ và phương tiện tầm soát

Hiện tại có nhiều phương tiện đã được chứng minh lợi ích khi áp dụng trong tầm soát ung thư đại trực tràng. USPSTF khuyến cáo nên lựa chọn chiến lược tầm soát dựa trên cơ sở cân nhắc xem phương tiện nào phù hợp nhất, đem lại nhiều lợi ích nhất và tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân. Nhìn chung lợi ích về sống còn đem lại là tương đương nhau giữa các chiến lược sàng lọc với nội soi đại tràng, FIT, nội soi đại tràng sigma kết hợp FIT, nội soi ảo khung đại tràng bằng CT scan; FIT-DNA có lợi ích thấp hơn các phương tiện trên rất ít; gFOBT và nội soi đại tràng sigma đơn độc đem lại lợi ích thấp nhất. Chụp đại tràng cản quang (kể cả đối quang ké p) không được khuyến cáo vì các chứng cứ cho thấp phương pháp này không hiệu quả trong tầm soát ung thư đại trực tràng.[1]

Sử dụng các xét nghiệm phân

  • Tầm soát bằng xét nghiệm Guaiac tìm máu ẩn trong phân (gFOBT), chu kỳ mỗi năm
  • Xét nghiệm miễn dịch tìm máu trong phân (FIT), chu kỳ mỗi năm
  • Xét nghiệm Cologuard (FIT-DNA), chu kỳ từ 1 đến 3 năm

Chi tiết về các xét nghiệm trong tầm soát xin xem tại: Các xét nghiệm tầm soát ung thư đại trực tràng

Sử dụng các phương tiện hình ảnh

  • Nội soi đại tràng, chu kỳ mỗi 10 năm
  • Nội soi ảo khung đại tràng bằng CT scan, chu kỳ mỗi 5 năm
  • Nội soi đại tràng sigma, chu kỳ mỗi 5 năm
  • Nội soi đại tràng sigma chu kỳ mỗi 10 năm kết hợp với FIT chu kỳ mỗi năm

Chi tiết về các hình ảnh học trong tầm soát xin xem tại: Hình ảnh học tầm soát ung thư đạit rực tràng

Tất cả các phương tiện tầm soát khác khi có bất thường đều cần được nội soi toàn bộ khung đại tràng đánh giá lại.

Tài liệu tham khảo

  1. Bibbins-Domingo K., Grossman D. C., Curry S. J., Davidson K. W., Epling J. W., Jr., et al. (2016), "Screening for Colorectal Cancer: US Preventive Services Task Force Recommendation Statement". Jama, 315  (23), pp. 2564-2575.
  2. Edwards B. K., Ward E., Kohler B. A., Eheman C., Zauber A. G., et al. (2010), "Annual report to the nation on the status of cancer, 1975-2006, featuring colorectal cancer trends and impact of interventions (risk factors, screening, and treatment) to reduce future rates". Cancer, 116  (3), pp. 544-73.
  3. Fearon E. R., Vogelstein B. (1990), "A genetic model for colorectal tumorigenesis". Cell, 61  (5), pp. 759-67.
  4. GLOBOCAN 2018. Global cancer observatory. 2018 [cited 10/11/2018; Available from: https://gco.iarc.fr.
  5. Imperiale T. F., Wagner D. R., Lin C. Y., Larkin G. N., Rogge J. D., et al. (2002), "Results of screening colonoscopy among persons 40 to 49 years of age". N Engl J Med, 346  (23), pp. 1781-5.
  6. Lin J. S., Piper M. A., Perdue L. A., Rutter C. M., Webber E. M., et al. (2016), "Screening for Colorectal Cancer: Updated Evidence Report and Systematic Review for the US Preventive Services Task Force". Jama, 315  (23), pp. 2576-94.
  7. van Hees F., Habbema J. D., Meester R. G., Lansdorp-Vogelaar I., van Ballegooijen M., et al. (2014), "Should colorectal cancer screening be considered in elderly persons without previous screening? A cost-effectiveness analysis". Ann Intern Med, 160  (11), pp. 750-9.
  8. Winawer S., Fletcher R., Rex D., Bond J., Burt R., et al. (2003), "Colorectal cancer screening and surveillance: clinical guidelines and rationale-Update based on new evidence". Gastroenterology, 124  (2), pp. 544-60.
  9. Winawer S. J., Fletcher R. H., Miller L., Godlee F., Stolar M. H., et al. (1997), "Colorectal cancer screening: clinical guidelines and rationale". Gastroenterology, 112  (2), pp. 594-642.
  10. Wolf A. M. D., Fontham E. T. H., Church T. R., Flowers C. R., Guerra C. E., et al. (2018), "Colorectal cancer screening for average-risk adults: 2018 guideline update from the American Cancer Society". CA Cancer J Clin, 68  (4), pp. 250-281.
  11. Yang D. X., Gross C. P., Soulos P. R., Yu J. B. (2014), "Estimating the magnitude of colorectal cancers prevented during the era of screening: 1976 to 2009". Cancer,  120  (18), pp. 2893-901.